Vì sao nên thuyết phục đối tác lựa chọn hòa giải thương mại?

03/17/2026

Tóm tắt

LS. Nguyễn Anh Tuấn là Luật sư thành viên Công ty Luật LNT & Partners, đồng thời là Hòa giải viên được công nhận bởi Trung tâm giải quyết tranh chấp hiệu quả (CEDR). Với kinh nghiệm tư vấn và tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, ông quan tâm đến việc thúc đẩy hòa giải thương mại như một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và thân thiện với quan hệ hợp tác giữa các bên. Trong bài viết này, tác giả phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý và thời điểm xác lập thỏa thuận hòa giải thương mại theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP; đồng thời làm rõ vai trò của luật sư trong việc thuyết phục khách hàng và đối tác lựa chọn hòa giải ngay từ giai đoạn thương thảo hợp đồng hoặc sau khi tranh chấp đã phát sinh. Từ thực tiễn hành nghề, tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân khiến đối tác từ chối hòa giải và chia sẻ một số kinh nghiệm thực tiễn để gia tăng khả năng đối tác chấp nhận hòa giải, qua đó cho thấy vì sao hòa giải thương mại nên được xem là lựa chọn ưu tiên trước khi đưa tranh chấp ra Trọng tài hoặc Tòa án.
 

Nội dung 

Hòa giải thương mại là gì? 

Nghị định 22/2017/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa về hòa giải thương mại như sau: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các Bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp”. Theo đó, hòa giải thương mại chỉ được tiến hành khi có sự thỏa thuận của cả hai bên. Thỏa thuận hòa giải có thể được thiết lập dưới dạng một điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng giữa các Bên, nhưng điều kiện tiên quyết là thỏa thuận hòa giải phải được lập dưới dạng văn bản. Thế nào là lập ở dạng văn bản thì Nghị định 22 không nêu rõ, tuy nhiên có thể tham khảo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 về các hình thức được xem là xác lập bằng văn bản của thỏa thuận Trọng tài như: telegram, fax, telex, thư điện tử,…  Do bản chất của hòa giải không đặt nặng về thủ tục tố tụng như hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay Tòa án, pháp luật cũng không đặt ra nhiều quy định về điều kiện có giá trị pháp lý của thỏa thuận hòa giải. 
 
Để giúp các Bên không phải băn khoăn về nội dung của thỏa thuận hòa giải, Trung tâm Hòa giải Việt Nam đã soạn thảo điều khoản mẫu về thỏa thuận hòa giải như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết tranh chấp bằng hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm này” . Điều khoản mẫu tuy ngắn gọn nhưng đã chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết để các Bên có thể đưa tranh chấp ra Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) bất kỳ lúc nào. Các Bên có thể có các cách khác để thể hiện nội dung thỏa thuận hòa giải, tuy nhiên điều khoản mẫu sẽ giúp các Bên dễ dàng hình dung được những thông tin cần thiết tối thiểu trong một thỏa thuận hòa giải: một là tổ chức hòa giải sẽ giải quyết tranh chấp, hai là quy tắc hòa giải mà các Bên mong muốn áp dụng. 
 

Thỏa thuận hòa giải được xác lập ở thời điểm nào? 

Nghị định 22 quy định thỏa thuận hòa giải có thể được xác lập vào bất cứ thời điểm nào, trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, nên cho dù vụ tranh chấp đã được đưa ra Trọng tài hay Tòa án thì các Bên vẫn có thể yêu cầu hòa giải được. Thông thường thỏa thuận hòa giải thường được xác lập ở hai giai đoạn: 
 

Giai đoạn 1: Thương thảo hợp đồng 

Trong điều khoản về giải quyết tranh chấp liên quan tới Hợp đồng luôn có mẫu câu: “Các Bên nỗ lực giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng này bằng thương lượng, hòa giải”. Thương lượng, hòa giải ở đây là tự thương lượng, hòa giải với nhau bằng thiện chí, nếu không thương lượng được thì mới đưa ra Tòa án. Mẫu câu ở trên không phải là thỏa thuận hòa giải để có thể đưa ra giải quyết bằng hòa giải thương mại. Do đó nếu các Bên muốn đưa tranh chấp ra giải quyết tại tổ chức hòa giải thương mại thì cần phải chú ý những thông tin cần phải có trong thỏa thuận hòa giải như đã phân tích ở trên.  
 
Khi phát sinh tranh chấp, các Bên thường có xu hướng tự thương lượng hòa giải với nhau trước và chỉ liên hệ đến Luật sư khi không tìm được phương án giải quyết. Một trong những nguyên nhân chính của xu hướng này là do các Bên muốn tiết kiệm chi phí, vì thông thường việc mời Luật sư sẽ tốn một khoản chi phí không nhỏ cho doanh nghiệp. Lý do thứ hai của xu hướng trên xuất phát từ việc mong muốn hợp tác làm ăn lâu dài giữa các Bên, khi các Bên đang trong quá trình đàm phán, nếu một bên mời Luật sư vào tham gia trong khi mâu thuẫn vẫn chưa đến mức gay gắt sẽ khiến bên còn lại cảm thấy vấn đề đang trở nên nghiêm trọng, và sẽ dè chừng hơn trong việc đưa ra các phương án để giải quyết tranh chấp.  
 
Giai đoạn thương thảo hợp đồng là giai đoạn dễ nhất để đưa điều khoản về hòa giải vào trong hợp đồng, vì lúc đó hai bên đang có thiện chí và mong muốn hợp tác. 
 
Thông thường các Bên trong Hợp đồng sẽ quan tâm nhiều đến điều khoản thương mại, còn Luật sư là người có vai trò cố vấn các điều khoản pháp lý về giải quyết tranh chấp. Với sự am hiểu về quy định pháp luật cũng như khả năng đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng khi nảy sinh tranh chấp, Luật sư sẽ là người giúp cho khách hàng hiểu được hiện nay pháp luật đã có quy định về hòa giải thương mại như một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án; đồng thời Luật sư cũng đóng vai trò là người giải đáp thắc mắc của các Bên liên quan đến hòa giải thương mại, vì không phải ai cũng biết đến phương thức giải quyết tranh chấp này. Có hai điểm chính để Luật sư thuyết phục khách hàng đưa điều khoản hòa giải vào hợp đồng là: Một là, hòa giải giúp các Bên tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc giải quyết tranh chấp; hai là, hòa giải giúp các Bên giữ được hòa khí và mối quan hệ hợp tác lâu dài vì hòa giải không phải hoạt động phân xử có thắng có thua, mà cả hai Bên sẽ cùng tìm ra phương án để cùng thắng. Từ đó, hòa giải đem lại hiệu quả tốt hơn trong việc giải quyết tranh chấp vì các Bên đều đồng ý với phương án giải quyết được đưa ra, do đó việc thi hành phương án đã thống nhất cũng mang tính tự nguyện hơn. Cũng vì lẽ đó, việc đưa điều khoản hòa giải vào hợp đồng trong quá trình thương thảo là một bước rất quan trọng. Và điều cần lưu ý là thỏa thuận về hòa giải không làm mất hiệu lực của thỏa thuận Trọng tài. Do đó trong trường hợp các Bên không đạt được thỏa thuận thông qua hòa giải thì bên có quyền lợi bị vi phạm vẫn có quyền đưa tranh chấp ra giải quyết bằng các phương án mang tính bắt buộc thi hành cao hơn như Trọng tài hoặc Tòa án. 
 

Giai đoạn 2: Giai đoạn đã phát sinh tranh chấp 

Giai đoạn 2 là giai đoạn tranh chấp đã phát sinh, mặc dù việc thỏa thuận về hòa giải tại giai đoạn này sẽ khó hơn giai đoạn 1 đã nêu trên nhưng nếu khách hàng muốn lựa chọn hòa giải mà bên kia vẫn chưa thực sự thuyết phục thì Luật sư cũng không nên từ bỏ cơ hội để hòa giải. Một sự thật không thể phủ nhận là nếu các Bên có thể thỏa thuận được trong quá trình giải quyết tranh chấp thì các Bên sẽ nắm quyền kiểm soát đối với phương án giải quyết, kèm theo đó mức độ quản lý rủi ro cũng cao hơn vì phương án giải quyết là do các Bên quyết định sau khi đã cân nhắc đến nhiều yếu tố khác về kinh doanh; còn nếu đưa vụ tranh chấp ra hội đồng xét xử thì các Bên không thể biết được phán quyết cuối cùng và kết quả cũng không nằm trong tầm kiểm soát của các Bên, do Hội đồng xét xử chỉ đánh giá và giải quyết dựa trên quy định pháp luật. 
 

Vì sao đối tác không chấp nhận hòa giải 

Trong tư tưởng của những người hoạt động kinh doanh, họ luôn đặt vấn đề lợi nhuận và tiết kiệm chi phí lên hàng đầu. Do đó nếu không nắm chắc phần thắng thì doanh nghiệp sẽ có xu hướng tìm một phương án thay thế có thể không thu được kết quả cao nhất, nhưng mức độ rủi ro lại thấp hơn; hoặc chấp nhận nhượng bộ một phần ở hiện tại nhưng đổi được lợi ích và mối quan hệ hợp tác lâu dài trong tương lai. 
 
Khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng, ngoài việc nghiên cứu kỹ hồ sơ, Luật sư cũng cần phải nắm bắt được tâm tư của khách hàng và thuyết phục khách hàng làm việc với phía đối phương. Luật sư của khách hàng cũng cần chủ động làm việc với Luật sư của đối tác để tìm ra phương án giải quyết tốt nhất cho cả hai bên, vì đôi khi cả hai Bên đều có những bức xúc nhất định có thể gây ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định sáng suốt nhất. 

Việc đối tác không chấp nhận đề nghị hòa giải thường xuất phát từ 02 nguyên nhân chính:  

Thứ nhất, Luật sư tư vấn của đối tác đánh giá tiềm lực của họ trong tranh chấp mạnh hơn và nhiều phần thắng hơn khi đưa ra tố tụng tại Trọng tài hoặc Tòa án; 
Thứ hai, khi một bên đề xuất hòa giải trước, thì bên còn lại càng được củng cố niềm tin rằng họ có phần thắng cao hơn và bên đề xuất hòa giải là bên yếu thế nên mới phải đề xuất hòa giải như một cách nhượng bộ. 
 
Trên thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp bên từ chối hòa giải đã đánh giá sai vị thế của mình, tới lúc bằng chứng được cung cấp cho Hội đồng Trọng tài hoặc Hội đồng xét xử thì họ mới thật sự muốn hòa giải. 
 

Làm thế nào cho đối tác chấp nhận hòa giải? 

Chỉ ra lợi ích của việc hòa giải: Điều kiện tiên quyết để các Bên chấp nhận hòa giải là họ phải hiểu được hòa giải sẽ đem lại cho họ những lợi ích gì. Để làm được điều này, Luật sư có thể đưa ra một số lý do để thuyết phục các Bên hiểu được tại sao nên lựa chọn hòa giải trước khi giải quyết bằng một bên thứ ba như Tòa án hay Trọng tài như: tiết kiệm được chi phí (chi phí hòa giải thường thấp hơn chi phí tố tụng tại Trọng tài hoặc Tòa án), hiệu quả cao hơn (tỉ lệ các Bên tự nguyện thi hành theo phương án hòa giải cao hơn so với thi hành theo phán quyết của Trọng tài hoặc bản án của Tòa án), quan hệ kinh doanh giữa các Bên vẫn được duy trì, v.v. 
 
Tránh không khiêu khích hay đe dọa: Trong quá trình thư từ qua lại để thương lượng phương án, các Bên cần tránh sử dụng những câu có thể phản tác dụng của việc đàm phán như: “Nếu không đồng ý hòa giải thì chúng tôi buộc khởi kiện”. Những tuyên bố như vậy sẽ chỉ khiến bên còn lại có phản ứng tự vệ mà không còn thiện chí hợp tác. 
 

Thể hiện sự khách quan: Luật sư đừng cố gắng thuyết phục đối phương hòa giải bằng mọi cách, vì điều đó có thể khiến bên được yêu cầu hòa giải cảm thấy rằng họ đang có phần thắng cao hơn. Việc lựa chọn hòa giải tốt nhất phải đạt được sự đồng thuận giữa các Bên, các Bên đều cảm thấy hòa giải là cần thiết thì mới hiệu quả. Đặc biệt, Luật sư không nên thể hiện mình có quen biết với các tổ chức hòa giải thương mại, vì sẽ khiến các Bên nghi ngờ về tính khách quan của hoạt động hòa giải. 

---
* Bài viết trích từ ấn phẩm hoà giải số HG03 do VMC phát hành vào tháng 12/2024, vui lòng tuy cập tại đây để xem toàn bộ ấn phẩm: ẤN PHẨM HOÀ GIẢI SỐ HG03

Related Post

  • HONG KONG ARBITRATION SOCIETY LIMITED
    HONG KONG INTERNATIONAL MEDIATION CENTRE
    Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
    Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
    Thời báo Kinh tế Sài Gòn
    Hội luật Quốc tế Việt Nam
    Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
    International Dispute Resolution & Risk Management Institute
    Korean International Mediation Center
    Singapore International Mediation Centre
    Shanghai Commercial Mediation Center (SCMC)
    Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế
    Internation Finance Corporation
    Báo Diễn đàn doanh nghiệp