Hòa giải trong tranh chấp sở hữu trí tuệ

01/08/2026
 
Tóm tắt 
LS. Lê Quang Vy là Luật sư Thành viên Công ty Luật TNHH Global Vietnam Lawyers, đồng thời là Hòa giải viên Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC. Từ kinh nghiệm hành nghề sâu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp, tác giả đặc biệt quan tâm đến việc vận dụng hòa giải thương mại như một phương thức thay thế cho tố tụng tòa án trong các vụ việc liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan và các quyền SHTT khác. Trong bài viết này, ông phân tích bức tranh tranh chấp SHTT và các cơ chế giải quyết hiện có (thương lượng, tòa án, trọng tài), chỉ ra những hạn chế của con đường tố tụng công khai, đồng thời lý giải vì sao hòa giải thương mại – với tính bảo mật, linh hoạt và khả năng được tòa án công nhận – đang trở thành lựa chọn phù hợp hơn cho các bên trong tranh chấp SHTT.
 
Nội dung 
Luật Sở hữu trí tuệ (“SHTT”) của nước ta được ban hành vào năm 2005, đến nay đã qua ba lần sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019 và năm 2022. Có thể khẳng định, các quan hệ SHTT đã và đang ngày một phát sinh đa dạng và phức tạp hơn so với những gì mà chúng ta đã dự tính từ gần 20 năm trước. Đối với việc giải quyết tranh chấp SHTT, bên cạnh phương thức truyền thống là thương lượng hoặc giải quyết tại Tòa án, pháp luật SHTT đã mở rộng, tạo điều kiện và khuyến khích các bên tranh chấp lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp mới, bao gồm hòa giải thương mại và trọng tài thương mại, với những ưu điểm về thủ tục đơn giản, thời gian giải quyết nhanh chóng, bảo mật được các thông tin liên quan. Đặc biệt đối với giới văn nghệ sĩ vốn dĩ luôn muốn giữ hình ảnh của mình thì việc lựa chọn hình thức hòa giải thương mại để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả hay quyền liên quan là giải pháp tối ưu nhất bởi tính bảo mật của nó. 
 
1. Tranh chấp SHTT và các phương thức giải quyết  
Tranh chấp SHTT thường phát sinh từ hành vi xâm phạm quyền SHTT của chủ sở hữu quyền được pháp luật bảo hộ. Về pháp lý, một hành vi được xác định là hành vi xâm phạm quyền SHTT khi có đủ 04 căn cứ: (i) đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; (ii) có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; (iii) người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép; và (iv) hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.  
Để ngăn ngừa và xử lý tình trạng xâm phạm quyền SHTT, pháp luật Việt Nam cho phép chủ sở hữu quyền chủ động bảo vệ quyền SHTT của mình bằng các biện pháp dưới đây:  
  • Áp dụng biện pháp công nghệ để bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền SHTT;  
  • Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;  
  • Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo quy định của pháp luật có liên quan; và  
  • Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.  
Ngoài ra, các chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự.  
Giải quyết tranh chấp SHTT bằng biện pháp dân sự bao gồm việc các bên tự mình thương lượng, hòa giải, và/hoặc yêu cầu thực hiện hòa giải thương mại, và/hoặc yêu cầu giải quyết tại trọng tài thương mại hoặc tòa án có thẩm quyền. Các biện pháp này được hiểu đại thể như sau:  
  • Thương lượng: các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để giải quyết tranh chấp mà không có sự trợ giúp của bên thứ ba. Tuy nhiên, thương lượng là hình thức đề cao tính tự nguyện và thiện chí của các bên mà không có sự ràng buộc bởi bất kỳ một khung pháp lý nào. Kết quả của việc thương lượng phụ thuộc nhiều vào ý chí, thái độ chủ quan của các bên tham gia, và không có tính bắt buộc thực hiện. Vì vậy, hiệu quả của việc thương lượng thường khó dự đoán và bảo đảm trên thực tế. 
  • Hòa giải thương mại: là các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn một tổ chức hòa giải thương mại hoặc hòa giải viên vụ việc làm trung gian hòa giải những bất đồng giữa các bên;  
  • Trọng tài và Tòa án: về cơ bản gần giống nhau khi đều là cơ quan phán xử, ra phán quyết/bản án để buộc các bên thực hiện. Tuy nhiên cần phân biệt sự khác nhau giữa hai cơ quan tài phán này. Nếu lựa chọn Tòa án sẽ gặp nhiều hạn chế cho các chủ thể tham gia, cụ thể, với nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án thì việc bảo mật danh tính của các chủ thể tranh chấp cũng như tài sản SHTT tranh chấp sẽ không được bảo mật; thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài, gây chi phí lớn.  
Ví dụ điển hình là vụ tranh chấp quyền tác giả giữa họa sỹ Lê Phong Linh và Công ty Phan Thị liên quan đến bộ truyện tranh “Thần Đồng Đất Việt”. Tính từ thời điểm họa sỹ Lê Phong Linh chính thức khởi kiện Công ty Phan Thị vào tháng 04/2007, đến khi Tòa án ban hành bản án cuối cùng vào ngày 18/02/2019, vụ án đã phải kéo dài gần 12 năm, và ít nhiều ảnh hưởng đến danh tiếng của cả nguyên đơn và bị đơn khi vụ án được xét xử công khai và thu hút sự chú ý của giới truyền thông và dư luận. Hơn nữa, trong khi những hành vi xâm phạm SHTT ngày càng đa dạng và tinh vi, các vấn đề liên quan đến SHTT thường mang tính chuyên môn kỹ thuật cao, hệ thống Tòa án hiện nay chưa có Tòa chuyên trách về SHTT, dẫn đến việc số lượng và năng lực những Thẩm phán chuyên xét xử vụ án về SHTT còn hạn chế, qua đó, ảnh hưởng đến thời gian xử lý tranh chấp và chất lượng của những bản án được ban hành.  
So với Tòa án, Trọng tài có ưu thế hơn do thủ tục tố tụng ngắn gọn, tiết kiệm thời gian, chi phí và tính bảo mật cao hơn, bởi do Trọng tài không theo nguyên tắc xét xử công khai, phiên họp giải quyết tranh chấp của Trọng tài chỉ bao gồm các bên liên quan. Ngoài ra, trong các tổ chức Trọng tài thương mại đều có trọng tài viên là những chuyên gia hay luật sư am hiểu, có chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực SHTT. Cả Trọng tài và Tòa án đều là các cơ quan tài phán, và thường sẽ là lựa chọn cuối cùng của các bên khi thương lượng và hòa giải bất thành. 
 
2. Hòa giải thương mại trong tranh chấp SHTT  
Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi mong muốn giới thiệu một phương thức giải quyết tranh chấp còn khá mới mẻ ở Việt Nam đó là hòa giải thương mại.  
 
Việc các bên tranh chấp thống nhất lựa chọn một bên thứ ba làm trung gian hòa giải khi không thể tự mình thương lượng đã được quy định và khuyến khích áp dụng từ lâu, tuy nhiên, lại ít được cân nhắc lựa chọn trên thực tiễn bởi do trước đây, các kết quả thương lượng hay kết quả hòa giải thành đều không có tính bắt buộc thi hành. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định 22/2017/NĐ-CP (“Nghị định 22”) có hiệu lực từ ngày 15/4/2017, những hạn chế về tính cưỡng bách của hình thức hòa giải thương mại cơ bản đã được khắc phục. Điều 16 Nghị định 22 quy định: văn bản thỏa thuận về kết quả hòa giải thành được “xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”. Theo đó, Điều 416 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cho phép Tòa án xem xét ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành nếu kết quả này “do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”.  
 
Như đã nêu trên, hòa giải thương mại còn giúp các bên tranh chấp giữ bí mật thông tin và tiết kiệm được thời gian, chi phí so với khi giải quyết tranh chấp tại tòa án. Việc giữ bí mật tất cả các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải là một trong ba nguyên tắc tối quan trọng của phương thức hòa giải thương mại. Các chủ thể của tranh chấp SHTT thường là những tổ chức, cá nhân đã xây dựng được danh tiếng, hình ảnh trong lĩnh vực hoạt động của mình, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung và cá nhân các văn nghệ sĩ nói riêng. Việc tham gia vào một vụ kiện kéo dài và công khai tại Tòa án chắc chắn sẽ là một vấn đề phải cân nhắc thận trọng đối với những chủ thể này. Vì vậy, với nguyên tắc bảo mật thông tin, hòa giải thương mại sẽ là sự lựa chọn có nhiều ưu thế hơn trong việc đảm bảo uy tín và danh dự của tất cả các bên khi nỗ lực tìm phương án giải quyết tranh chấp. 
 
Ưu điểm của hình thức hòa giải thương mại còn được thể hiện ở việc các bên có thể lựa chọn hòa giải viên trong danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại, không giống như việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nơi một thẩm phán sẽ được chỉ định để giải quyết vụ việc và các bên tham gia không có quyền lựa chọn. Hơn nữa, các bên có thể lựa chọn tham gia hòa giải trực tiếp hoặc trực tuyến, điều này sẽ giúp các bên tiết kiệm chi phí và thời gian, đặc biệt đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.  
 
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều tổ chức hòa giải thương mại được thành lập, trong đó Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) là đơn vị đầu tiên được thành lập vào ngày 27/4/2018. VMC hiện có 58 hòa giải viên thương mại hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của pháp luật, bao gồm cả sở hữu trí tuệ. Ngoài ra có thể kể đến gồm Trung tâm hòa giải thương mại Quốc tế Việt Nam, Trung tâm hòa giải thương mại Sài Gòn, Trung tâm hòa giải thương mại Đông Nam Á, v.v.  
 
Về mặt thủ tục, tranh chấp SHTT chỉ được giải quyết bằng hòa giải thương mại khi các bên có thỏa thuận hòa giải, và thỏa thuận này có thể được thực hiện trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp. Dù vậy, các bên nên quy định rõ về việc ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại ngay từ khi soạn thảo hợp đồng liên quan đến SHTT để có cơ sở áp dụng hình thức này khi tranh chấp SHTT xảy ra. VMC có điều khoản hòa giải mẫu mà các bên có thể sử dụng cho hợp đồng của mình như sau: “Mọi tranh chấp phát từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam theo Quy tắc hòa giải của Trung Tâm này”. Đối với các tranh chấp SHTT chưa có thỏa thuận hòa giải, quy tắc hòa giải của VMC cho phép trung tâm nhận một Bản đề nghị hòa giải từ một bên của tranh chấp, với nội dung đề nghị bên còn lại giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải tại VMC. VMC sau đó sẽ chuyển Bản đề nghị hòa giải tới bên được đề nghị (bên còn lại của tranh chấp) để yêu cầu trả lời đề nghị. VMC cũng có thể hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận hòa giải để các bên bắt đầu thủ tục hòa giải thương mại. 
 
Việc sử dụng hòa giải thương mại để giải quyết các tranh chấp về bản quyền âm nhạc không xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới và thực tế các bên liên quan ưa chuộng tìm kiếm phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án như hòa giải hơn với lý do: thủ tục đơn giản, tính vô tư, trung dung, bảo mật, cách tiếp cận giải quyết tranh chấp mang tính “có lợi cho các bên” gần giống như khi thương lượng hợp đồng, giảm bớt tính đối đầu của các bên.  
 
Ngay WIPO, một tổ chức SHTT thế giới, cũng khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp tại hòa giải hoặc trọng tài. WIPO cũng có Trung tâm Hòa giải và Trọng tài của riêng mình. Số liệu từ WIPO cho thấy ngày càng có nhiều bên chọn phương án giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải và trọng tài tại WIPO.  
 
  

Related Post

  • HONG KONG ARBITRATION SOCIETY LIMITED
    HONG KONG INTERNATIONAL MEDIATION CENTRE
    Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
    Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
    Thời báo Kinh tế Sài Gòn
    Hội luật Quốc tế Việt Nam
    Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
    International Dispute Resolution & Risk Management Institute
    Korean International Mediation Center
    Singapore International Mediation Centre
    Shanghai Commercial Mediation Center (SCMC)
    Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế
    Internation Finance Corporation
    Báo Diễn đàn doanh nghiệp