.jpg)
Tóm tắt
LS. Dương Quốc Thành là Luật sư điều hành Công ty Luật ALV Lawyers, đồng thời là Hòa giải viên Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC. Với hơn ba thập kỷ làm việc trong hệ thống Tòa án, hành nghề luật sư, giảng dạy tại Học viện Tư pháp và tham gia với tư cách Hòa giải viên, Trọng tài viên, ông đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng thương lượng như một kỹ năng cốt lõi trong giải quyết tranh chấp. Trong bài viết này, tác giả hệ thống các quy định pháp luật về thương lượng trong nhiều lĩnh vực (thương mại, đầu tư, bảo hiểm, xây dựng) và chia sẻ “hành trang” thực tiễn về kỹ năng thương lượng, qua đó làm rõ vì sao thương lượng là nền tảng quan trọng của hòa giải cũng như có thể được vận dụng hiệu quả xuyên suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và Trọng tài.
Nội dung
Thương lượng giải quyết tranh chấp là phương thức vốn không mới và ngày càng trở nên phổ biến, tuy nhiên thực tế cho thấy dường như chưa có sự chuẩn bị cần thiết để có thể sử dụng và phát huy những điểm ưu việt của phương thức này. Bài viết này sẽ đưa ra những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến sử dụng thương lượng, một phương thức giải quyết tranh chấp và những nội dung, ý kiến để sử dụng và phát huy hơn nữa phương thức này. Hơn nữa, khi hòa giải giải quyết tranh chấp trở nên phổ biến hơn hay được quan tâm hơn, thì hiểu về thương lượng và sự liên quan giữa hai phương thức giải quyết tranh chấp này sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để có được kết quả hòa giải tốt hơn cũng như thương lượng vẫn có thể được sử dụng hiệu quả trong cả tố tụng Tòa án, Trọng tài hay sau khi đã sử dụng tất cả các phương thức này.
- Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng Thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam.
a) Luật Thương mại
Theo Điều 317 của Luật Thương mại 2005 quy định về Hình thức giải quyết tranh chấp:
“(1) Thương lượng giữa các bên.
(2) Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
(3) Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.”
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.
Như vậy, giải quyết tranh chấp bằng hình thức thương lượng được Luật Thương mại quy định là một trong bốn hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên trong hoạt động thương mại có thể lựa chọn.
b) Luật Đầu tư
Theo Điều 3.8 của Luật Đầu tư 2020 quy định về định nghĩa Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh.
Theo Điều 14.1 quy định về Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh, “Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này”.
Như vậy, liên quan đến hoạt đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tranh chấp phải được giải quyết thông qua hoạt động thương lượng, hòa giải giữa các bên trước khi thực hiện giải quyết tranh chấp tại Trọng tài hoặc Tòa án có thẩm quyền.
c) Luật Kinh doanh Bảo hiểm
Theo Điều 4.16 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 quy định về Hợp đồng bảo hiểm, “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.”
Theo Điều 32 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 quy định Phương thức giải quyết tranh chấp: “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Trường hợp không thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua Hòa giải hoặc Trọng tài hoặc Tòa án theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật.”
Như vậy, các tranh chấp phát sinh, liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm phải được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận thông qua phương thức thương lượng, các bên sẽ tiến hành giải quyết tranh chấp thông qua các hình thức Hòa giải, Trọng tài và Tòa án có thẩm quyền.
d) Luật Xây dựng
Theo Điều 3.20 của Luật Xây dựng 2014 quy định về Hoạt động đầu tư xây dựng, Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng bao gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng.
Theo Điều 138.1 của Luật Xây dựng 2014 quy định về Quy định chung về Hợp đồng xây dựng, Hợp đồng xây dựng là Hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Theo Điều 146.8 của Luật Xây dựng quy định về Nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp Hợp đồng xây dựng:
“8. Nguyên tắc và trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng được quy định như sau:
a) Tôn trọng các thỏa thuận hợp đồng và các cam kết trong quá trình thực hiện hợp đồng, bảo đảm bình đẳng và hợp tác;
b) Các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, khi các bên tham gia hợp đồng xây dựng phát sinh tranh chấp từ hợp đồng hoặc liên quan đến hợp đồng, các Bên phải có trách nhiệm ưu tiên phương thức giải quyết tranh bằng phương thức thương lượng. Trong trường hợp các bên không thể tự thống nhất phương án giải quyết thông qua hình thức thương lượng, các bên có quyền được lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Hòa giải, Trọng tài thương mại hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.
- Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Thương lượng
Thương lượng, một được hiểu một cách đơn giản là các bên, thường là hai bên trong giao dịch hay hợp đồng, khi có bất đồng hoặc tranh chấp sẽ tự mình trao đổi với nhau để cùng tìm, hiểu và thỏa thuận để đạt được phương án giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp. Các bên có thể nhờ sự hỗ trợ của luật sư hay một bên thứ ba cùng tham gia, và bên thứ ba hay luật sư khi tham gia cũng sẽ đóng vai trò hỗ trợ cho các bên trong cuộc trao đổi, nói chuyện, thảo luận để tìm phương án và đạt đồng thuận.
Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên trong tranh chấp được quyền tự quyết lớn nhất, từ việc có thực hiện hay tham gia hay không, trao đổi với nhau như thế nào, bằng phương tiện gì, quyết định thời gian và việc tổ chức các cuộc gặp gỡ thân thiện hay các cuộc họp với nghi thức nghiêm túc cho đến quyết định những nội dung liên quan đến tranh chấp.
Phương thức này có nhiều điểm tích cực, lợi thế có thể kể đến như tiết kiệm thời gian, chi phí, linh hoạt, giữ được bí mật kinh doanh và quan trọng hơn là giữ được quan hệ đối tác, làm ăn giữa các bên.
Điều kiện để có thể sử dụng phương thức này là hai bên phải có sự tự nguyện, đồng thuận để có sự trao đổi, nói chuyện, thảo luận và sẽ không có được bất kỳ cuộc thương lượng nào nếu một bên không có thiện chí, hợp tác tham gia. Một cuộc thương lượng cần có sự tham gia, tự nguyện tham gia của cả hai bên.
Song, đó mới chỉ là những điều kiện cho sự bắt đầu một cuộc thương lượng hay một quá trình thương lượng. Phần tiếp theo sẽ đưa ra một cách khái quát “hành trang” cần phải chuẩn bị khi tham gia thương lượng. Những nội dung này, người viết tổng hợp từ những bài viết đã đọc, những trải nghiệm và kinh nghiệm của cá nhân trong quá trình tham gia các khóa học, hội thảo và công việc thực tế. Nói cách khác, đây là cách nhìn và chia sẻ của cá nhân tác giả, dựa trên sự tích lũy từ nhiều nguồn được tiếp cận cùng với những nhận xét, đánh giá qua thời gian dài với nhiều hoạt động hay công việc khác nhau, trong suốt thời gian hơn 34 năm qua, trong đó có 10 năm làm thẩm phán trong 18 năm công tác tại Tòa án và thời gian hành nghề luật sư hơn 16 năm sau đó, cùng với hơn 20 năm là giảng viên thỉnh giảng của Học viện Tư pháp, tham gia giảng dạy cho các lớp đào tạo nguồn thẩm phán và luật sư cũng như các vai trò khác nhau với tư cách là Hòa giải viên và Trọng tài viên trong nhiều vụ việc khác nhau.
Có sáu nội dung trong “hành trang” cần có, chuẩn bị và đem theo khi bước vào thương lượng.
Thứ nhất, cần biết “thương lượng là giao tiếp với mục đích thuyết phục”. Điều này rất quan trọng và là điểm đầu tiên cần chuẩn bị để bước vào quá trình thương lượng. Theo một cách truyền thống hay tồn tại tự nhiên nào đó, dù có ý thức hay không, trong mỗi cá nhân có thể có sự tồn tại, ít hay nhiều, những gì được “thừa hưởng” từ những thế hệ trước, môi trường sống, gia đình, trường học hay công việc liên quan đên sự áp đặt và chịu sự áp đặt. Thương lượng không thể có dựa trên sự áp đặt. Thương lượng dựa trên sự giao tiếp có nghĩa là hai bên, các bên cùng cần có nhận thức về việc trao đổi thông tin, trao đổi cách nghĩ hay sự nhìn nhận về những nội dung có liên quan đến giao dịch, điều khoản hợp đồng và cách hiểu của từng bên, để bên kia được biết và cùng đưa ý kiến của bên đó. Quá trình này diễn ra để cả hai bên đều có cơ hội đưa ý kiến, lập luận để bảo vệ ý kiến, thuyết phục bên kia thuận theo hay đồng ý với ý kiến của mình. Bên còn lại sẽ cần lắng nghe và trao đổi trở lại và bên kia cũng sẽ lắng nghe. Trong quá trình đó, hai bên đều cung cấp thông tin, đưa ra lý giải, giải thích, phân tích và lập luận để bên kia hiểu được suy nghĩ và sau đó là giải pháp được đề cập của từng bên để từ đó thảo luận cần thiết đi đến đồng thuận.
Thứ hai, cần “tôn trọng sự khác biệt”. Mỗi người chúng ta cũng như xã hội càng ngày dường như càng đồng thuận về sự khác biệt giữa các cá nhân là điều hiển nhiên. Thực vậy, ngay trong những điều kiện giống nhau từ gia đình, khu vực địa lý cùng chung sống, cùng trường học hay môi trường làm việc, các cá thể, cá nhân luôn có sự khác biệt, trong đó có sự khác biệt trong cách nhìn, phân tích, đánh giá và hành xử. Theo đó, với một cuộc thương lượng, trao đổi và các bên, dù là đại diện cho các tập đoàn hay doanh nghiệp, cần ý thức về sự hiện diện của các cá nhân và ý thức về sự khác biệt của các cá nhân đó, trong mối liên hệ với các cá nhân khác và mỗi chúng ta. Không thể đánh đồng hay buộc các cá nhân khác luôn có cách nhìn đúng như những gì ta nhìn, suy nghĩ hay hành động mà sẽ cần nhìn nhận sự khác biệt là tất nhiên. Do đó, hiểu và đánh giá đúng sự khác biệt để tìm phương án “hóa giải” sự khác biệt, để cùng đạt đồng thuận sẽ là cách nhìn thực tế và tích cực trong thương lượng. Đây cũng chính là việc mỗi bên sẽ cố gắng hiểu, “đứng từ góc độ của bên kia” đánh giá, suy nghĩ và quyết định vấn đề để có thể thuyết phục lẫn nhau đạt đồng thuận một phương án mà cả hai bên đều có thể chấp nhận.
Thứ ba, “sự thỏa hiệp”. Thỏa hiệp, theo một cách hiểu có thể hiểu là sẽ “bớt đi lợi ích hay gia tăng trách nhiệm, nghĩa vụ” so với cách nghĩ, cách hiểu hay tính toán của một bên. Mỗi cá nhân hay đại diện của một công ty có thể có những quan điểm khác nhau về vấn đề này bởi sẽ có thể có câu hỏi “Tại sao tôi hay công ty tôi phải thỏa hiệp trong khi tất cả các điều khoản trong hợp đồng và các điều luật có liên quan đều đảm bảo Tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu của tôi hay công ty tôi.” Câu trả lời là nếu bạn thực sự nghĩ như vậy và khăng khăng bảo vệ cho ý kiến đó, không có sự thay đổi hay điều chỉnh nào khác thì bước vào thương lượng để làm gì và làm sao có thể có được cuộc trao đổi khi cả hai bên cùng có cách nhìn là ý kiến, quan điểm của mỗi bên đều duy nhất đúng và sẽ không có sự thay đổi hay nhượng bộ với bên kia. Việc hai bên đều khăng khăng như vậy có thể so sánh với việc hai bên, có thể với mong muốn gặp nhau, nhưng sẽ luôn đứng hay chạy ở hai bờ của một dòng sông, không bên nào xuống đò, xuống thuyền hay chạy qua cầu để có thể gặp nhau.
Do đó, muốn tham gia thương lượng và muốn thương lượng có kết quả, sẽ cần chấp nhận hay công nhận sự thỏa hiệp. Đó chính là việc từng bên có thể phải “rời xa” hơn những gì được viết trong các quy định của hợp đồng hay quy định của pháp luật, để có được phương án tốt giải quyết được bất đồng, đảm bảo lợi ích, có thể bị bớt đi khi đó, để đổi lấy việc giữ được mối quan hệ làm ăn, hợp tác lâu dài và có được lợi ích lớn hơn trong tương lai. Có thể thấy rằng ngay cả việc hai bên, dựa trên sự thỏa hiệp, để có thể đạt đồng thuận, giải quyết được tranh chấp cũng sẽ là một điểm mà các bên cần nhìn nhận tích cực và thấy được giá trị. Một “chiến thắng” ở Tòa án bằng một bản án không phải trong một số trường hợp đều đồng nghĩa với việc bên đó thu được lợi ích hay đạt được những gì đã được ghi trong bản án đó.
Thứ tư, thương lượng là dựa trên “sự cân bằng lợi ích”. Trước hết, trong thương lượng các bên cần hiểu và sẽ tập trung nhiều vào lợi ích của bên mình và đối tác hơn là sự hơn thua trong các quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật, so với việc đem vụ việc ra giải quyết tại cơ quan xét xử. Thêm vào đó, các bên và cả luật sư của các bên, sẽ cần có được một cách nhìn rộng hơn về “lợi ích” của mỗi bên trong giao dịch đang có tranh chấp, đồng thời trong mối liên hệ hay quan hệ làm ăn của các bên.
Như vậy, trong nhiều trường hợp, lợi ích của bên bán hàng hay cung cấp dịch vụ sẽ có thể vượt xa hay lớn hơn phần tiền hàng hay phí sử dụng dịch vụ của bên mua hàng hay sử dụng dịch vụ. Tương tự, lợi ích của một nhà phân phối, mua hàng về để bán, có thể sẽ không dừng lại ở việc đòi phần bồi thường thiệt hại cho số hàng đã nhận có lỗi hay không đảm bảo chất lượng.
Những lợi ích lớn hơn trong trường hợp này mà cả hai bên cần nhận biết hay ý thức có thể là quá trình làm ăn cùng nhau trong thời gian dài và cơ hội vẫn có thể làm cùng trong thời gian tới để có thể cùng có thêm doanh thu và lợi nhuận khi giải quyết được lô hàng có “vấn đề” hiện đang tranh chấp.
Hai phần còn lại trong “hành trang” cần chuẩn bị khi bước vào thương lượng là BATNA và ZOPA, là những phần liên quan đến các thuật ngữ được biết đến trong các giáo trình hay chương trình giảng dạy của nhiều khóa học về thương lượng tại các trường Đại học lớn trên thế giới. Bài viết này sẽ không đi vào chi tiết các nội dung này mà sẽ chỉ đưa cách nhìn cần biết khi tham gia thương lượng.
Về BATNA, tiếng Anh: Best Alternative To A Negotiated Agreement, dịch theo từ sang tiếng Việt sẽ là: Phương án thay thế tốt nhất cho một thỏa thuận đạt được bằng Thương lượng. Cách hiểu của cá nhân người viết về BATNA có thể bao gồm hai khía cạnh là:
(i) Khi tham gia thương lượng, cần phải có nhiều phương án, phải có phương án B hay C thay vì chỉ có một phương án A là phương án hoàn hảo hay phản ánh sự mong đợi tốt nhất, đòi hỏi tốt nhất của mỗi bên; và
(ii) Thương lượng không thành thì cần có một phương án phù hợp, sẽ cần chuẩn bị như thế nào, trong đó có thể cần sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp khác và cùng với đó, tìm kiếm “đối tác” khác để cùng làm ăn hay thực hiện giao dịch trong tương lai. Sự chuẩn bị này có thể tương đồng với một cách nghĩ tích cực “there is plenty of fish in the sea / Dưới biển có rất nhiều cá”, thay vì chỉ luôn nghĩ “con cá mất là con cá to” và có thái độ tiêu cực khi không thể có “con cá” đó.
Cuối cùng là ZOPA, Zone of Possible Agreement, được hiểu là khoảng hay quãng mà các bên có thể đạt được đồng thuận. Nhận biết và xác định hợp lý về ZOPA sẽ giúp các bên làm thứ ba, trung lập, khách quan, không xung đột lợi ích với các bên trong tranh chấp, tham gia hỗ trợ các bên đạt đồng thuận để giải quyết tranh chấp dựa trên kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của Hòa giải viên.
- Thương lượng trong giải quyết tranh chấp bằng Hòa giải và Tranh tụng
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó có sự hỗ trợ của Hòa giải viên là một bên. Phương thức này có nhiều điểm tích cực, lợi thế có thể kể đến như tiết kiệm thời gian, chi phí, linh hoạt, giữ được bí mật kinh doanh và quan trọng hơn là giữ được quan hệ đối tác giữa các bên.
Có một điểm khá nổi bật của phương thức này đã được Chánh án Tòa án tối cao của Singapore chỉ ra rằng ngay cả khi vụ việc không thực sự có thể giải quyết hoàn toàn thì các bên trong tiến trình hòa giải có thể thấy rõ hơn, cả về các vấn đề tranh chấp và lợi ích của các bên, từ đó họ có thể tự đưa ra cách thức hay tiến trình để có thể xử lý các vấn đề đó theo cách tốt nhất có thể. Điều quan trọng là, Hòa giải là phương thức không tranh biện đối kháng mà dựa trên lợi ích có thể bảo toàn được quan hệ giữa các bên một cách tích cực, hiệu quả. Như vậy, cho một xã hội coi trọng sự hòa hợp, tin tưởng và các mối quan hệ tốt đẹp thì Hòa giải thực sự là phương thức mà các bên có thể sử dụng để có thể quản lý và xử lý những khác biệt của họ mà không cần đến các phương thức mang tính đối kháng, căng thẳng dựa trên lập trường với sự thắng thua, được mất.
Theo quan điểm cá nhân của tác giả, Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp mà trong đó Hòa giải viên hỗ trợ để các bên trong tranh chấp có thể duy trì và tiến hành tốt hơn việc thương lượng, mà có thể trước đó đã có và không đạt kết quả. Trong đó khi tham gia hòa giải, các bên vẫn được quyền tự quyết rất lớn, từ việc đồng thuận mời Hòa giải viên đến quyết định thời gian và việc tổ chức tiến trình hòa giải, và quyết định những nội dung liên quan đến tranh chấp. Theo đó, Hòa giải viên có vai trò là người trung gian để hỗ trợ cho tiến trình thương lượng, thảo luận giữa các bên có tranh chấp. Hòa giải viên không ở vị trí hay có thẩm quyền quyết định nội dung tranh chấp hay nội dung thỏa thuận giữa các bên.
Chính vì vậy, cùng với kỹ năng và phẩm chất của Hòa giải viên, để có thể có một cuộc hòa giải thành công hay hiệu quả, các bên trong tranh chấp, luật sư của các bên và Hòa giải viên cần hiểu về thương lượng, trong đó cần có thông tin, kiến thức và kỹ năng liên quan thương lượng và thương lượng giải quyết tranh chấp. Chỉ có như vậy, một tiến trình hòa giải mới có thể giúp các bên có được sự thảo luận hợp tác, thiện chí để đi đến thỏa thuận về phương án phù hợp và cân bằng lợi ích cho các bên, giải quyết được tranh chấp và duy trì quan hệ đối tác.
Thương lượng đồng thời có sự liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án hay Trọng tài. Trong quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa án hay Trọng tài, các bên vẫn được quyền và được khuyến khích tiếp tục thương lượng để có sự thỏa thuận giải quyết vụ án và có thể lựa chọn việc Tòa án hay Trọng tài sẽ công nhận sự thỏa thuận của các bên, khi thỏa thuận đó là tự nguyện và không trái pháp luật. Đơn giản hơn, các bên có quyền tự mình hay với sự hỗ trợ của luật sư lập văn bản thỏa thuận thông qua thương lượng và tự nguyện thực hiện cùng với việc rút đơn kiện để Tòa án hay Trọng tài đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Trong quá trình hành nghề Luật sư trong thời gian hơn 16 năm qua, cá nhân tác giả đã hỗ trợ rất nhiều cho Khách hàng thương lượng thành công và đạt đồng thuận với đối tác là bên đối lập trong các vụ án tại Tòa án hay Trọng tài. Điều này cho thấy thương lượng không chỉ được sử dụng trong giai đoạn đầu tiên khi có bất đồng, có tranh chấp mà thương lượng có thể cho thấy hiệu quả hơn khi các bên trong tranh chấp đã tốn khá nhiều thời gian, công sức và “bầm dập” qua nhiều vòng tố tụng.
Bất đồng và tranh chấp sẽ tồn tại cùng với các quan hệ xã hội và kinh doanh. Các phương thức giải quyết tranh chấp sẽ được các bên lựa chọn phù hợp với từng cách hiểu hay thông tin mà các bên và luật sư của các bên có được. Theo thời gian, càng ngày các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, trong đó có Thương lượng và Hòa giải càng trở nên phổ biến hơn và cho thấy hiệu quả hơn ở các nước phát triển.
Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn cũng đã, đang và sẽ đi theo xu hướng này. Có thể nói sẽ không bao giờ là quá muộn cho một cuộc thương lượng khi các bên thực sự hiểu về thương lượng và nhận thức được chính các bên có được quyền tự quyết cao nhất cho quyền và lợi ích của các bên. Do đó, có thông tin, hiểu biết và sử dụng tốt Thương lượng, Hòa giải càng trở nên quan trọng và cần thiết để giải quyết tốt hơn, thân thiện và hợp tác hơn các bất đồng, tranh chấp, giữ được quan hệ hợp tác trong kinh doanh và sự hòa hợp trong các mối quan hệ xã hội.